Trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND đối với cử tri và nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 

24 Tháng Ba 2015 11:21:00 SA

Tập hợp các bài viết về trách nhiệm của Đại biểu QH, HĐND đối với nhân dân và cử tri trong Hiến pháp năm 2013.doc

Bài 1. Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân
Điều 7, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phương hướng và là mục tiêu bao trùm trong hoạt động xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Nhà nước dân chủ nhân dân do nhân dân trực tiếp tổ chức, xây dựng thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu.
Tổng tuyển cử là một quyền chính trị mà nhân dân giành được qua đấu tranh cách mạng, là hình thức dân chủ, thể hiện năng lực thực hành dân chủ của nhân dân. Thông qua việc bầu Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp, nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện.
Quyền lực tối cao của nhân dân không chỉ thể hiện ở việc bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp mà còn ở quyền bãi miễn, kiểm soát, giám sát hoạt động của các đại biểu. Cơ chế dân chủ này làm cho Quốc hội, HĐND được trong sạch, giữ được phẩm chất, năng lực hoạt động.
Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Với vai trò làm chủ Nhà nước, thực hiện sự ủy quyền của nhân dân, các đại biểu được bầu ra phải có trách nhiệm gần gũi, sâu sát để hiểu dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, bàn và giải quyết những vấn đề thiết thực cho quốc kế dân sinh.
Để thể hiện nhân dân lao động làm chủ Nhà nước thì đại biểu do nhân dân bầu ra phải có mối liên hệ mật thiết, thường xuyên với nhân dân. Thoát ly mối liên hệ này, Nhà nước rất dễ rơi vào quan liêu, trì trệ, đứng trên đầu nhân dân, trái với bản chất dân chủ đích thực vốn có của Nhà nước dân chủ kiểu mới.
Như vậy, với vị trí, chức năng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Còn với vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, HĐND chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. HĐND còn phải quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương.
Có thể nói, để đáp ứng được đầy đủ nguyện vọng của tất cả cử tri, nhân dân cả nước cũng như ở mỗi địa phương là điều không dễ dàng gì đối với Quốc hội, HĐND. Tuy nhiên, thực tế cuộc sống luôn đòi hỏi mỗi đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải luôn có nhiều cố gắng để thể hiện, phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quyết định những vấn đề lớn, quan trọng của đất nước, địa phương.
Hầu hết các lĩnh vực, vấn đề gì thuộc trách nhiệm, thẩm quyền thì Quốc hội, HĐND đều cần phải tập trung xem xét, ban hành nghị quyết, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của chính quyền để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh cho đất nước, địa phương.
Riêng đối với Đắk Nông, nhìn lại hoạt động của HĐND tỉnh thời gian qua, cử tri, nhân dân cũng thấy được sự nỗ lực, cố gắng của Thường trực HĐND tỉnh cũng như mỗi đại biểu HĐND tỉnh trước những vấn đề “quốc kế dân sinh” của tỉnh nhà. Hàng trăm nghị quyết đã được HĐND tỉnh thông qua, có tính khả thi cao, có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân.
Góp phần cho những kết quả đó, các đại biểu HĐND tỉnh đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc dành thời gian nghiên cứu nội dung các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết cũng như tiếp xúc cử tri, nắm tình hình thực tế, những vấn đề bức xúc, nổi cộm tại địa phương để tham gia ý kiến, phản ánh tại diễn đàn HĐND.
Rõ ràng, như Hiến pháp đã quy định, điều quan trọng nhất vẫn là mỗi đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, khi được cử tri tín nhiệm, cần phải luôn có “cái tâm”, thật sự hiểu rõ những bức xúc, quyền và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân  thì mới có thể đầu tư công sức, trí tuệ, đi sâu, đi sát tìm hiểu ngọn ngành mọi vấn đề cũng như mạnh dạn phát biểu tại các diễn đàn Quốc hội, HĐND. Có như vậy, đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND mới thật sự nêu cao vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, xứng đáng với sự tin tưởng, gửi gắm của cử tri.
Tường Mạnh (Theo Báo Đăk Nông)

Bài 2. Cử tri giám sát Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp

Trong quá trình mở rộng dân chủ hóa xã hội, trình độ dân trí của nhân dân từng bước được nâng cao, giám sát nhân dân càng đóng vai trò quan trọng, tạo thành một khâu quan trọng trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Sự tham gia giám sát trực tiếp của nhân dân đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan. Dân là chủ thể của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, sức mạnh công quyền xuất phát từ nhân dân và nó phải được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhân dân. Dân tham gia giám sát quyền lực nhà nước là nguyên tắc vận hành của nền chính trị ở nước ta. Do đó, giám sát nhân dân nói chung và giám sát của cử tri đối với các cơ quan dân cử nói riêng, là một đòi hỏi của qúa trình xây dựng xã hội công dân và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay.
Mục đích của giám sát quyền lực và giám sát nhân dân đối với các cơ quan dân cử là để quyền lực không bị lạm dụng, bị tha hóa, sự uỷ quyền của ng­ười dân đối với các cơ quan quyền lực, với đội ngũ cán bộ, công chức được kiểm soát. Thực tế đã chứng minh, quyền lực và quyền lực nhà nước luôn có xu hướng bị tha hóa, bị biến dạng và bị lạm dụng vào những mục đích cá nhân, nhiều khi đi ngược lại lợi ích xã hội. Vì vậy, để ngăn ngừa những hậu qña tiêu cực của nó, quyền lực, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ. Giám sát nhân dân là một cách thức quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong tất cả các hình thức kiểm soát quyền lực thì giám sát nhân dân phải được coi trọng nhất, phải được đặt đúng tầm mức quan trọng của nó và phải được thực hiện mạnh mẽ và sâu rộng nhất trong toàn xã hội. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nên chỉ có nhân dân mới đủ tư cách giám sát được sự uỷ quyền của mình. Vấn đề là ở chỗ, chúng ta đã thực sự coi trọng và đã có một cơ chế hữu hiệu để hiện thực hóa sự giám sát của nhân dân? Nhân dân đã nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ làm chủ của mình ?. Nhân dân đã dám làm chủ hay chưa? (Hồ Chí Minh). Đó là những câu hỏi mà chúng ta phải giải đáp trong qúa trình xây dựng thể chế dân chủ và cơ chế giám sát quyền lực ở nước ta hiện nay.
Trong xu hướng mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc mở rộng dân chủ phải gắn chặt với việc thực hiện sự giám sát của nhân dân. Giám sát nhân dân là phương thức, đồng thời là thước đo sự dân chủ trong xã hội. Phải tiếp tục phát huy tốt hơn quyền làm chủ của dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Muốn vậy, các đại biểu phải định kỳ báo cáo và chịu sự kiểm tra, giám sát của cử tri, nếu đại biểu không có đủ tín nhiệm thì cử tri thực hiện quyền bãi miễn đại biểu đó. Có các hình thức để nhân dân có thể dự thính hoặc theo dõi, trực tiếp nắm thông tin. Cải tiến cách thức để nhân dân được tham gia bàn thảo góp ý các dự luật, các dự thảo nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước thật sự thiết thực và có hiệu qủa, tránh cách làm hình thức, tràn lan, tốn kém. Công khai, minh bạch và dân chủ cũng là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.
Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: đi đôi với nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp phải tăng cường hoạt động giám sát của nhân dân một cách cụ thể, như công khai hóa các nội dung và cơ chế, phương thức giám sát của các cơ quan chức năng, các đoàn thể quần chúng và nhân dân về thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước. Minh bạch và công khai thông tin, các quy định của Nhà nước, nghiêm túc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở nhằm đẩy lùi những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực.
Như vậy, giám sát của nhân dân đối với mọi hoạt động của Nhà nước, nhất là các cơ quan dân cử và đại biểu các cơ quan dân cử là quan điểm thống nhất được Đảng ta kế thừa và phát triển trong quá trình lãnh đạo đất nước.
Một trong những nội dung quan trọng của hoạt động giám sát của nhân dân là cử tri giám sát hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Việc giám sát của cử tri đối với hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan bởi vì cö tri đã thiết lập, lựa chọn đại biểu và trao quyền cho hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân thì hä phải giám sát được những cơ quan đại diện và người đại diện của mình có thực sự xứng đáng thay mặt dân và sử dụng sự uỷ quyền của mình hay không. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là cơ quan đại diện cho quyền lợi, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hội đồng nhân dân các cấp cũng đồng thời là cơ quan có thẩm quyền quyết định chính sách những vấn đề quan trọng liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân.

Các hình thức nhân dân giám sát hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân.

Nhân dân giám sát hội đồng nhân dân thông qua các đại biểu - mà dân đã lựa chọn và bầu lên, thông qua các kỳ họp, qua các cuộc tiếp xúc cử tri. Nhân dân còn giám sát hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân thông qua thực hiện Luật Khiếu nại và tố cáo, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Pháp lệnh Dân chủ cơ sở, qua các đoàn thể nhân dân và các tổ chức kinh tế mà nhân dân tham gia. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng trở thành công cụ quan trọng để nhân dân giám sát hoạt động của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.
Hình thức giám sát quan trọng nhất của cử tri là giám sát thông qua các cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. Mục đích của bầu cử là để nhân dân lựa chọn được những người thực sự đại diện cho ý chí, nguyên vọng của mình để trao quyền với phương châm “chọn mặt gửi vàng”. Cùng với sự phát triển của đất nước, quá trình bầu cử các cơ quan dân cử ở nước ta luôn được hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn.
Đảng ta coi việc nhân dân tham gia xây dựng và giám sát cán bộ là một trong những nhiệm vụ và giải pháp lớn trong việc thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta khẳng định: Có cơ chế để nhân dân phát hiện, tiến cử những người có đức, có tài cho các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể; lựa chọn, bầu cử những người lãnh đạo trực tiếp của mình. Nhân dân giám sát các công việc và phẩm chất của cán bộ, trước hết là những cán bộ có liên quan trực tiếp với mình; biểu dương cán bộ tốt, phát hiện đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng. Bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại của nhân dân đối với cán bộ theo pháp luật. Có quy định cán bộ định kỳ tự phê bình, lắng nghe và tiếp thu những ý kiến của dân, sửa chữa những khuyết điểm mà dân nêu ra. Nhân dân chỉ có thể giám sát được hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp khi họ được trực tiếp lựa chọn, có đầy đủ thông tin của các đại biểu dân cử. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới cơ chế bầu cử các cơ quan dân cử ở nước ta hiện nay. Mục tiêu là làm cho hệ thống bầu cử của chúng ta được vận hành thực chất để lựa chọn được những người có đủ năng lực thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực. Mục tiêu này cũng phục vụ cho hoạt động giám sát của nhân dân thực sự hiệu quả tạo nên sự kiểm soát quyền lực triệt để và toàn diện nhất.
Vấn đề mấu chốt là, bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế giám sát nhân dân chúng ta phải không ngừng nỗ lực để nâng cao trình độ dân trí, dân trí pháp luật, dân trí dân chủ của nhân dân. Khi nhân dân đã có trình độ dân trí cao, có ý thức chính trị cao thì họ sẽ tích cực tham gia giám sát xã hội, giám sát hoạt động của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.
Chúng ta cần phải tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử các cơ quan dân cử, bảo đảm cho cử tri tiếp xúc, đối thoại với ứng cử viên, có đủ thông tin để trao đổi, nhận xét, lựa chọn và bầu cử đại biểu của mình thực sự dân chủ trên cơ sở có sự lãnh đạo, hướng dẫn về tiêu chuẩn, cơ cấu; quy định nhiều hình thức thích hợp để duy trì sự liên hệ thường xuyên giữa người đại diện và cử tri, để các đại biểu luôn luôn bám sát thực tiễn, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng, yêu cầu của dân nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan dân cử để các cơ quan này thực sự là cơ quan đại diện của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước trong việc xem xét và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương.
Các cơ quan hành chính nhà nước phải nghiêm túc chấp hành các quyết định của cơ quan dân cử trong trách nhiệm, quyền hạn đã được pháp luật quy định và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân cử; phát huy vai trò của hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc xem xét, quyết định các nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đời sống nhân dân, về ngân sách và giám sát việc điều hành của Uỷ ban nhân dân.
Một hình thức nữa để cử tri giám sát hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp là thông qua các kỳ họp của hội đồng nhân dân các cấp. Cùng với xu thế mở rộng dân chủ các hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta cũng có những bước khởi sắc mà biểu hiện cụ thể là ở các kỳ họp hội đồng nhân dân của các thành phố lớn đã được truyền hình trực tiếp để nhân dân theo dõi và giám sát. Tại các kỳ họp hội đồng nhân dân các cấp đã trực tiếp thảo luận những vấn đề thiết thực đối với đời sống của nhân dân, như vấn đề về quản lý đất đai, vấn đề thực hiện các dự án, đề án. Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chương trình tạo ra diễn đàn để nhân dân phản ánh tâm tư nguyện vọng và đối thoại trực tiếp với đội ngũ công quyền. Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã thực hiện thường xuyên việc mời đại diện của nhân dân tham gia các kỳ họp của Hội đồng nhân dân thành phố để trực tiếp chứng kiến không khí dân chủ, cởi mở và thái độ làm việc có trách nhiệm của các đại biểu Hội đồng nhân dân. Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội cũng thường xuyên tường thuật trực tiếp các buổi chất vấn tại các phiên họp của Hội đồng nhân dân thành phố. Hội đồng nhân dân các cấp đang khắc phục tính hình thức, đưa hoạt động vào thực chất và hiệu qủa hơn, thể hiện được tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực nêu trên, hoạt động giám sát của nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nhìn ra phạm vi toàn quốc chúng ta vẫn phải thẳng thắn thừa nhận tình trạng hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta vẫn hoạt động nặng về hình thức, thiếu những chế tài để kiểm chứng những việc làm của các cơ quan nhà nước. Những vấn đề mà hội đồng nhân dân các cấp nêu lên chưa thực sự phản ánh được những yêu cầu cốt yếu mà nhân dân quan tâm. Bên cạnh đó, đội ngũ đại biểu hội đồng nhân dân các cấp vẫn còn rất thụ động, bị công chức hóa, hành chính hóa, vẫn còn ở xa dân. Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp vẫn chưa chủ động đi sâu tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân, còn hoạt động cầm chừng và theo kế hoạch định sẵn. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nêu trên là đa số đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta còn kiêm nhiệm, giữ nhiều chức vụ do đó không có thời gian để hoạt động, tính chuyên nghiệp rất thấp. Nhiều đại biểu hội đồng nhân dân các cấp không biết được kỹ năng hoạt động thế nào, chức năng đại biểu dân cử của mình ra sao dẫn đến sự lúng túng. Bên cạnh hạn chế về kỹ năng hoạt động thì họ còn rất hạn chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ nhất là về những lĩnh vực có tính chuyên ngành … Điều đó dẫn đến tình trạng hội đồng nhân dân các cấp dường như trở thành cơ quan hợp thức hóa chủ trương và ý chí của chính quyền các cấp chứ không phải là ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Sau mỗi kỳ họp hội đồng nhân dân, các đại biểu lại tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri nhưng nếu xét về hiệu quả giám sát của cử tri cũng rất thấp. Bởi vì tất cả các cuộc tiếp xúc cử tri đều diễn ra theo một công thức đã định sẵn . Đại diện đoàn đại biểu báo cáo các hoạt động của kỳ họp, sau đó cử tri (mà cử tri cũng được chỉ định sẵn) phát biểu, rồi đại diện của đoàn đại biểu hội đồng nhân dân phát biểu ý kiến và đưa ra những lời hứa.
Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận Tæ quèc cũng là kênh giám sát của nhân dân, là cánh tay của dân và là nơi tập hợp sức mạnh đoàn kết của nhân dân, trở thành diễn đàn tập hợp sức mạnh của nhân dân. Một trong những chức năng cơ bản của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên là giám sát và phản biện xã hội, tạo nên sự đồng thuận xã hội. Tuy nhiên, dường như chức năng này chưa được Mặt trận Tổ quốc coi trọng và thúc đẩy mạnh mẽ mà nó thường bị đặt sau những thành tích về công tác từ thiện, xóa đói giảm nghèo của Mặt trận Tổ quốc. Những thành tích đó rất quan trọng nhưng chưa phải là chức năng cơ bản của Mặt trận Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc nên tổ chức cho các thành viên và tập trung vào việc đoàn kết toàn dân, giám sát và phản biện xã hội, trở thành cơ chế hữu hiệu để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan dân cử trong đó có hội đồng nhân dân các cấp nói riêng.
Tại mỗi kỳ họp của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp cần có các báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri. Tuy nhiên, các báo cáo đó lại rất chung chung và được đề cập một cách rất sơ sài và d­êng như được viết theo công thức có sẵn. Vấn đề đặt ra là phải cần làm gì để tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc các cấp trong việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân và của cử tri đối với hội đồng nhân dân các cấp. Theo chúng tôi, Mặt trận Tổ quốc phải trở thành diễn đàn để nhân dân thực hiện quyền giám sát thực sự của mình trở thành một nội dung cơ bản của qúa trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở nước ta hiện nay.
Các đoàn thể nhân dân cũng chưa thật sự trở thành kênh giám sát có hiệu qủa của nhân dân đối với hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Có tình trạng này là do các đoàn thể đã bị hành chính hóa, đội ngũ cán bộ làm việc trong các đoàn thể lại bị công chức hóa và mất đi tính chất quần chúng và tự quản của nhân dân.
Một số giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của cử tri đối với Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay.
Để tăng cường vai trò của hoạt động giám sát nhân dân đối với hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp đòi hỏi một hệ giải pháp đồng bộ và toàn diện, đòi hỏi sự tự giác tham gia của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là của toàn thể nhân dân.
Một là, quán triệt quan điểm của Đảng về tăng cường hoạt động giám sát của nhân dân được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng. Thể chế hóa quan điểm của Đảng về giám sát nhân dân thành pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý để điều chỉnh hoạt động giám sát của nhân dân. Việc thể chế hóa quan điểm của Đảng thành pháp luật có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của hoạt động giám sát nhân dân.
Hai là, nâng cao nhận thức của nhân dân về tầm quan trọng của hoạt động giám sát đối với bộ máy nhà nước và các cơ quan dân cử. Nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân thông qua hoạt động tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân. Có biện pháp cụ thể để khuyến khích các tầng lớp nhân dân tham gia đối thoại với các cơ quan, cán bộ công chức.
Ba là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó chú trọng tới việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân nhằm quy định rõ nội dung trưng cầu ý dân, quyền quyết định và trách nhiệm tổ chức trưng cầu dân ý. Đặc biệt, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm, thủ tục xem xét ý kiến, kiến nghị của nhân dân và đánh giá, sử dụng kết qủa trưng cầu dân ý. Ban hành Luật Giám sát của nhân dân làm cơ sở pháp lý bảo đảm cho nhân dân không chỉ thực hiện quyền khiếu nại mà còn thực hiện tốt hơn nữa quyền tố cáo của mình. Hệ thống hóa những văn bản dưới luật về quy chế dân chủ cơ sở để nâng Pháp lệnh dân chủ cơ sở thành Luật Về Dân chủ cơ sở.
Bốn là, tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan chức năng kiểm tra, thanh tra, giám sát khác. Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa giám sát nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc, Ban thanh tra nhân dân với hoạt động giám sát của Quốc hội, hoạt động thanh tra của Chính phủ và hoạt động kiểm tra của Đảng. Mặt trận Tổ quốc phải thực sự trở thành kênh giám sát có hiệu qủa và thực hiện những chức năng cơ bản của Mặt trận là giám sát và phản biện xã hội. Cần phát huy tối đa sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở như hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi, hội phụ nữ, hội nông dân, hội luật gia, đoàn thanh niên vào các hoạt động giám sát nhằm đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực ở địa phương.
Năm là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp, trong đó, quy định rõ hơn nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu, bảo đảm cho họ "đủ quyền", "thực quyền" và hoạt động có hiệu qủa...
Sáu là,đổi mới hoạt động tại kỳ họp của hội đồng nhân dân. Cần có cơ chế để các kỳ họp Hội đồng nhân dân có thể xem xét kết qủa thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân một cách cụ thể, khách quan; đánh giá các tiêu cực, hạn chế và quy rõ trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức và cá nhân cụ thể cùng các chế tài tương ứng. Nhân dân có thể bãi nhiệm đại biểu hoặc đề nghị các cơ quan có trách nhiệm xử lý những cá nhân để xảy ra các vi phạm, không thực hiện đúng các nghị quyết, quyết định của hội đồng nhân dân các cấp.
Bảy là, đổi mới cơ chế lựa chọn đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhằm lựa chọn được những đại biểu có năng lực, phẩm chất, có tâm huyết và ý chí tham gia hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp. Những quy định của Luật Bầu cử hội đồng nhân dân tiếp tục được chi tiết hoá hơn nữa theo những tiêu chuẩn đại biểu trong thực tế, nhất là coi trọng tiêu chuẩn về độ tuổi, sức khoẻ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ, trình độ văn hóa một cách rõ ràng và cụ thể hơn.
Tám là, đổi mới cơ chế hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân. Trong các cuộc tiếp xúc với cử tri đại biểu hội đồng nhân dân, không chỉ tuyên truyền, giải thích, phổ biến nghị quyết, kết quả kỳ họp, thu thập nguyện vọng của cử tri, mà còn phải toạ đàm, đối thoại, giải đáp ý kiến của cử tri, tiếp thu yêu cầu, kiến nghị của cử tri về những vấn đề đang bức xúc ở mỗi địa phương, đánh giá tình hình, kết quả hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương và có những giải pháp cụ thể để đưa nguyện vọng chính đáng, đúng luật của dân vào đời sống mét cách nhanh nhất , hiệu quả nhất./.
Tống Đức ThảoHọc viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Bài 3. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, một số vấn đề đặt ra

Qua thực tiễn hoạt động cũng như trao đổi, thảo luận tại nhiều hội nghị trực báo của Thường trực HĐND, báo cáo hoạt động của HĐND các cấp trong những năm qua ở tỉnh Quảng Ngãi cho thấy, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND các cấp đã đoàn kết, nỗ lực và hoàn thành khá tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nghị quyết của HĐND đã kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nội dung nghị quyết cơ bản bám sát với tình hình thực tế ở địa phương và có tính khả thi cao, đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Hoạt động giám sát của HĐND đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương. Công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri, khiếu nại tố cáo của công dân được tăng cường và đem lại hiệu quả tích cực. Quan hệ giữa đại biểu dân cử với cử tri được cải thiện, niềm tin của cử tri đối với Đảng, Nhà nước được nâng lên. HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh đã từng bước phát huy vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.
Với kết quả và hiệu quả đạt được như vậy là nhờ sự tác động, phối hợp từ nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố quan trọng như:
- Thứ nhất là sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng đối với hoạt động của HĐND. Việc bố trí cán bộ Đảng giữ các chức danh Thường trực HĐND là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với HĐND và nâng cao vị thế của HĐND, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND. Qua đó, tạo sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.
- Thứ hai lànâng cao vai trò, trách nhiệm của Thường trực, các Ban và đại biểu HĐND các cấp.
Thường trực, các Ban và đại biểu HĐND giữ vai trò nòng cốt, chủ động trong công tác điều hành và tổ chức thực hiện các hoạt động của HĐND. Thường trực HĐND phát huy tốt vai trò trong việc điều hòa, phối hợp, nhất là trong các hoạt động thẩm tra, giám sát. Các Ban HĐND nêu cao trách nhiệm của mình trong công tác thẩm tra báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp, chủ động rà soát kỹ nội dung, đưa ra những vấn đề còn vướng mắc, chưa đúng quy định của pháp luật để giúp cho đại biểu có thêm thông tin, định hướng trong việc xem xét, thảo luận và quyết định. Sau khi nghị quyết được ban hành, Thường trực và các Ban HĐND thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ việc tổ chức triển khai thực hiện, kịp thời phát hiện và đề xuất biện pháp chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế. Các đại biểu HĐND tăng cường đi thực tế tại địa phương, theo dõi giám sát các cơ quan chức năng trong việc thực hiện quy định của pháp luật, nghị quyết HĐND, việc trả lời, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri; nghiên cứu sớm các tài liệu, văn bản trình tại các kỳ họp HĐND để tham gia ý kiến thảo luận có chất lượng; tích cực tham gia các hoạt động giám sát, hoạt động tiếp xúc cử tri theo quy định...
- Thứ ba làxây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa Thường trực HĐND với UBND, UBMTTQVN và các cơ quan liên quan khác.Thường trực HĐND các cấp chủ động xây dựng Quy chế phối hợp với UBND, UBMTTQVN cùng cấp để thực hiện, nhất là việc thống nhất thực hiện một số nội dung như: dự kiến nội dung, chương trình các kỳ họp, hoạt động tiếp xúc cử tri, chất vấn, giám sát, tổ chức kỳ họp, giải quyết các vấn đề phát sinh giữa hai kỳ họp...
- Thứ tư làkhông ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực hiện chức năng quyết định và giám sát của HĐND. Xác định đúng vấn đề cần quyết định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả các nghị quyết của HĐND; chương trình ban hành nghị quyết bám sát vào nhiệm vụ chính trị và điều kiện thực tế, khả năng thực hiện của địa phương. Chất lượng công tác thông tin phục vụ cho HĐND ra quyết định được nâng lên; cơ quan tham mưu, giúp việc cho HĐND chuẩn bị tài liệu, văn bản quy định và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho đại biểu HĐND nghiên cứu, có những thông tin cần thiết trước khi biểu quyết thông qua. Đổi mới công tác điều hành của chủ tọa kỳ họp theo hướng tạo môi trường cho đại biểu phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm tham gia thảo luận, góp ý thẳng thắn về nội dung các đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết; chủ tọa gợi ý, định hướng xem xét những vấn đề còn những ý kiến khác nhau; có báo cáo tóm tắt để trình bày, dành thời gian thỏa đáng cho thảo luận và chất vấn, trả lời chất vấn... Trong hoạt động giám sát, nội dung đã tập trung vào những lĩnh vực bức xúc đang được cử tri quan tâm. Thường trực HĐND tham gia cùng Đoàn giám sát của các Ban HĐND để nắm bắt tình hình, chỉ đạo kịp thời nên kết quả giám sát có chất lượng và hiệu quả hơn. Sau giám sát, Thường trực, các Ban HĐND thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát của các cơ quan, đơn vị, tránh để xảy ra tình trạng các kiến nghị sau giám sát không được thực hiện. Đối với kiến nghị chậm giải quyết, Thường trực HĐND tiếp tục có văn bản nhắc nhở, đôn đốc giải quyết.
- Thứ năm làsựquan tâm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, kỹ năng hoạt động cho đại biểu HĐND.Hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đại biểu HĐND, nhất là đại biểu chuyên trách. Vấn đề bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu HĐND được đặt lên hàng đầu, đây là một giải pháp cơ bản góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử ở địa phương.
- Thứ sáu làchú trọng kiện toàn bộ máy cơ quan tham mưu, giúp việc cho HĐND.Không ngừng kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức của Văn phòng đảm bảo về số lượng và chất lượng để thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho HĐND, Thường trực, các Ban HĐND. Công tác đào tạo, tập huấn đối với đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc cho HĐND được quan tâm và thực hiện thường xuyên hơn.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp trong thời gian đến, ngoài việc nâng cao vai trò, trách nhiệm, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Thường trực, các Ban HĐND, Tổ đại biểu, đại biểu HĐND và đội ngũ tham mưu giúp việc, cần được sự quan tâm hơn nữa của cấp thẩm quyền đối với một số vấn đề sau:
Một là,
tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động của HĐND, đặc biệt, là việc quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ có năng lực bảo đảm các chức danh trong HĐND tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Tăng số lượng cấp ủy cùng cấp trong Thường trực và Ban của HĐND.
Hai là, sửa đổi Luật Tổ chức HĐND và UBND cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và sát với thực tiễn hoạt động của HĐND các cấp hơn, tập trung vào các vấn đề: tăng đại biểu HĐND chuyên trách, cụ thể như quy định Thường trực HĐND tỉnh gồm Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch (bỏ chức danh Ủy viên thường trực); các Ban HĐND tỉnh có Trưởng Ban và Phó Ban chuyên trách; HĐND cấp huyện được thành lập 03 Ban như cấp tỉnh hiện nay, theo đó tách Ban Kinh tế - Xã hội để thành lập Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hóa - Xã hội, đồng thời, quy định mỗi Ban có Trưởng hoặc Phó Ban chuyên trách. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể về khen thưởng, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với đại biểu HĐND; về thời gian tham gia hoạt động công tác HĐND đối với thành viên không chuyên trách của các Ban HĐND...
Ba là, ban hành Luật giám sát của HĐND, theo đó cần quy định cụ thể về những vấn đề như thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phương thức giám sát của HĐND; cơ chế, nguồn lực để sử dụng tư vấn thẩm định phản biện, phục vụ cho công tác thẩm tra, giám sát của HĐND; nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan liên quan như UBND, các cơ quan chuyên môn trong việc chuẩn bị nội dung phục vụ hoạt động giám sát của HĐND; trách nhiệm xử lý, giải quyết, thực hiện các kiến nghị sau giám sát của HĐND; các chế tài áp dụng khi các cơ quan chức năng không thực hiện các kiến nghị sau giám sát... làm cơ sở pháp lý cụ thể để HĐND thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Bốn là, đề nghịcấp thẩm quyền quy định cụ thể hơn về bộ máy giúp việc của HĐND các cấp, trong đó, cần tách Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; đặc biệt chú ý đến Văn phòng giúp việc cho HĐND cấp huyện cần có bộ máy riêng, không chung với UBND; đối với cấp xã cũng cần có chuyên viên giúp việc riêng cho HĐND./.
(Theo Trang TTĐT Đoàn ĐBQH & HĐND tỉnh Quảng Ngãi)

TRỤ SỞ CHÍNH:
Đường Trần Phú - Phường Gia Cẩm - Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210.3846.284 - Fax: 0210.3844.030 - Email: sotc@phutho.gov.vn
Giấy phép số:01/GPTTĐT-STTTT ngày 06-03-2014 do Sở Thông tin và Truyền thông Phú Thọ cấp.
Người chịu trách nhiệm: Phó Giám đốc - Nguyễn Mạnh Sơn.
Ghi rõ nguồn "SỞ TÀI CHÍNH TỈNH PHÚ THỌ" hoặc "stcphutho.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này